Dư cân béo phì được định nghĩa đơn giản như là tình trạng dư thừa lượng mỡ phân bố bất thường trên cơ thể.
Nguyên nhân
- Tiền sử gia đình: là yếu tố nổi bật nguy cơ béo phì ở trẻ em. 80% trẻ em béo phì nặng có một hoặc cả 2 bố mẹ cùng béo phì. Cân nặng khi đẻ: nếu cân nặng khi đẻ lớn hơn 4 kg, trẻ sau này nuôi dưỡng trong môi trường tốt cũng dễ bị béo phì hơn trẻ có cân nặng ở mức bình thường.
- Các thức ăn hàng ngày sử dụng nhiều dầu, mỡ dễ gây béo.
- Các loại thức ăn nhanh, chiên xào thường có năng lượng và dầu mỡ cao, các loại thức ăn có hương vị hấp dẫn nên dễ kích thích trẻ ăn được nhiều hơn.
- Gia đình có ít con tỷ lệ béo phì cao hơn.
- Thiểu năng trí tuệ và béo phì: Ở những trẻ bị thiểu năng trí tuệ do bản năng tự kiềm chế ăn kém nên dễ dẫn đến ăn quá mức và ăn không biết no.
Những điều nên làm:
– Khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn một loại thực phẩm nào đó.
– Nếu uống sữa nên uống không đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa bột tách bơ). Không nên uống sữa đặc có đường.
– Chế biến thức ăn: Hạn chế các món rán, xào, nên làm các món luộc, hấp, kho.
– Nên nhai kỹ và ăn chậm, ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích luỹ nhanh hơn.
– Nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, giảm ăn về chiều và tối.
– Nên ăn nhiều rau xanh, quả ít ngọt. Giảm bớt gạo thay bằng khoai, ngô là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ .

Đối với trẻ dưới 2 tuổi :
– Bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng
– Không cho trẻ ăn nhiều quá, thể tích mỗi bữa phải phù hợp với tháng tuổi.
– Cháo, bột cần có mức năng lượng thấp, không cho thêm các thực phẩm nhiều chất béo vào bát bột, cháo của trẻ như: bơ, phomat, sữa giàu béo.
Những điều nên tránh:
Trẻ ăn uống hoạt động tích cực để phòng thừa cân, béo phì.
– Hạn chế tối đa cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga.
– Không nên dự trự sẵn các loại thức ăn giàu năng lượng như: Bơ, pho mát, bánh, kẹo, chocoat, kem, nước ngọt trong nhà.
– Không nên cho trẻ ăn vào lúc tối trước khi đi ngủ.